Chuyển đến nội dung chính

DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN - Chương VII - XÃ HỘI HOÁ Y HỌC CỔ TRUYỀN

DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN - Chương VII - XÃ HỘI HOÁ Y HỌC CỔ TRUYỀN

Chương VII
XÃ HỘI HOÁ Y HỌC CỔ TRUYỀN

Công tác xã hội hoá Y học cổ truyền rất phong phú, rất rộng lớn bao gồm nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, trong khuôn khổ giáo trình này chỉ giới thiệu tóm tắt một số điểm có liên quan đến phát triển dược học cổ truyền; đặc biệt ở tuyến cộng đồng.

I. Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ Y HỌC CỔ TRUYỀN

Trong những năm trước đây, đã có thời kỳ phong trào thuốc nam tại xã đã đạt đến đỉnh cao. Nhiều xã trên miền Bắc đã hoàn thành tốt công tác phát triển thuốc Nam. Tuy nhiên bước vào cơ chế thị trường, nhiều hình thức của phong trào thuốc nam trước đây không còn phù hợp nữa. Do đó tình hình y học cổ truyền ở tuyến cơ sở lúc đầu có nhiều giao động, có nguy cơ xuống dốc. Để khắc phục tình hình đó, Ngành y tế đã có những biện pháp kịp thời, thích ứng với hoàn cảnh ở cơ sở. Do đó tình hình y học cổ truyền ở tuyến cơ sở lại có điều kiện phát triển theo phương thức mới phù hợp hơn, tạo điều kiện phục vụ tốt hơn sức khoẻ của nhân dân ở cộng đồng bằng thuốc y học cổ truyền. Thông qua đó, cũng nổi lên được sự quan tâm của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nhất là nhân dân ở nông thôn, cũng như ở các miền sâu miền xa, đời sống còn nhiều khó khăn thì việc xã hội hoá y học cổ truyền lại càng là vấn đề quan trọng, trong đó thuốc y học cổ truyền càng có ý nghĩa thiết thực đối với việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở cộng đồng.

II. BIỆN PHÁP ĐỂ CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN Y HỌC CỔ TRUYỀN

- Tiếp tục củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống tổ chức y học cổ truyền. Triển khai mạnh mẽ việc chăm sóc toàn diện, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền ngày càng cao của nhân dân, thực hiện chính sách thu phí, giảm phí, miễn phí công bằng xã hội nhất là đối với người nghèo, người có công với cách mạng, vùng nghèo, vùng căn cứ cách mạng.
- Triển khai mạnh mẽ việc nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại.
- Đẩy mạnh đào tạo đội ngũ cán bộ thực hành y học cổ truyền. Tiếp tục đào tạo cán bộ chuyên sâu (thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên khoa I, II) y học cổ truyền.
- Mở rộng xã hội hoá y học cổ truyền, chăm sóc sức khoẻ ở cộng đồng.
- Thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước, trong lĩnh vực y dược học cổ truyền. Sửa đổi bổ sung một số chính sách nhằm khuyến khích những người hành nghề YDHCT cống hiến những bài thuốc hay những kinh nghiệm quý đặc biệt là kinh nghiệm phòng bệnh chữa bệnh bằng YDHCT của đồng bào các dân tộc ít người.
- Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực y dược học cổ truyền về nghiên cứu, đào tạo, điều trị, sản xuất thuốc và thiết bị trong lĩnh vực YDHCT với các nước nhất là các nước trong khu vực có nền YDHCT phát triển.
- Phát triển trồng và bào chế sản xuất nguyên liệu và thuốc cổ truyền có hiệu lực an toàn và chất lượng, phục vụ việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

III. CÁC CHỈ TIÊU CỤ THỂ

3.1. Về tổ chức.
- Tiếp tục đổi mới củng cố và ổn định tổ chức cho phù hợp với cơ chế hiện nay.
- Các cơ sở y tế nhất thiết phải có chuyên viên, chuyên trách công tác y học cổ truyền. Tăng cường đầu tư nâng cấp bệnh viện y học cổ truyền thành bệnh viện đa khoa y học cổ truyền, chữa các bệnh cấp tính mà y học cổ truyền có khả năng giải quyết.
- Củng cố và phát triển khoa y học dân tộc trong các viện, bệnh viện y học hiện đại.
- Khôi phục và củng cố phong trào thuốc nam ở cơ sở

3.2. Về đào tạo (kể cả y và dược).
Tiếp tục đào tạo cao học, nghiên cứu sinh chuyên khoa I, II, nội trú, chuyên khoa bác sĩ y học cổ truyền. Huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đào tạo cán bộ y dược học cổ truyền, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kết hợp với y học hiện đại.

3.3. Về nâng cao khoa học.
Các bệnh viện, viện y học dân tộc tối thiểu phải có 2 đề tài nghiên cứu về ứng dụng y học dân tộc được nghiệm thu
- Mỗi khoa y học dân tộc của viện, bệnh viện hiện đại trung ương và bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố khu vực có ít nhất 1 đề tài nghiên cứu kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại được nghiệm thu, xây dựng khoa y học cổ truyền hoặc một số giường bệnh y học cổ truyền tại các bệnh viện, viện y học hiện đại.
- Tiếp tục hồi cứu, nghiên cứu xác định thêm 5 quy trình trồng trọt 5 cây dược liệu.

3.4. Về xã hội hoá y học cổ truyền.
Chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng, 100% tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương triển khai hầu xã ở hai huyện về sử dụng cây thuốc sẵn có trong vườn gia đình; tiến hành xoa bóp day ấn đơn giản để tự phòng và chữa một số bệnh thông thường khi mới mắc tại gia đình và cộng đồng.

3.5. Về trồng trọt và sản xuất nguyên liệu.
Bào chế thành phẩm thuốc cổ truyền phục vụ cho công tác chữa bệnh.
Đẩy mạnh trồng trọt các cây thuốc, trước mắt là các cây thuốc đã được Bộ nghiên cứu, hồi cứu, phổ biến quy trình trồng trọt chính thức để sản xuất nguyên liệu cung cấp cho bào chế thuốc phiến và sản xuất các thành phẩm thuốc cổ truyền đặc biệt các dược liệu quý đã di thực được, có kế hoạch nuôi trồng tập trung những dược liệu có nhu cầu sử dụng lớn, giá trị kinh tế cao.

3.6. Về hiện đại hoá y học cổ truyền.
100% số bệnh viện y học cổ truyền trong cả nước được đầu tư sửa chữa các cơ sở đã hư hỏng xuống cấp. 80% số bệnh viện y học cổ truyền được trang bị thêm một số thiết bị kỹ thuật y học hiện đại để phục vụ khám chữa bệnh.
Thành lập Khoa y học cổ truyền dân tộc tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tiến tới thành lập Trường đại học y học cổ truyền, tiếp tục mở rộng đào tạo chuyên khoa I tại một số địa phương khu vực...

IV. PHƯƠNG THỨC TRỒNG TỈA SỬ DỤNG THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN Ở CƠ SỞ

Công tác trồng trọt thu hái sử dụng thuốc cổ truyền theo phương thức mới phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện hiện nay, đó là sự phối hợp giữa Ngành y tế và Hội y học cổ truyền và các hội quần chúng khác như Hội phụ nữ, Hội chữ thập đỏ, Hội cựu chiến binh và các trường phổ thông, trồng vào vườn thực vật của trường một số cây thuốc, đặc biệt các cây thuốc sẵn có ở địa phương, hướng dẫn sách sử dụng và giới thiệu truyền thống YDHCT cho học sinh. Đồng thời vận động các gia đình xây dựng “Tủ thuốc xanh” bằng cách trồng các cây vừa làm rau ăn vừa làm thuốc như kinh giới, tía tô, mùi, răm, xương sông, lá lốt... vừa làm cảnh vừa làm thuốc như hoa hồng bạch, bạc hà, xạ can, trắc bách diệp, huyết dụ... vừa làm cây ăn quả vừa làm thuốc như lựu, ổi, quất hồng bì, hồng xiêm, hồng trứng (Xem bảng 6).
Làm như vậy sẽ khai thác về mặt kinh tế một cách hợp lý, tăng thu nhập cho gia đình, đảm bảo dược nguồn thuốc tại chỗ khi có bệnh, vừa góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Góp phần vào việc xã hội hoá y học cổ truyền ở cộng đồng.
Bên cạnh hệ thống quốc lập ta còn có một mạng lưới chẩn trị và nhà thuốc đông dược tư nhân tràn giải khắp các địa phương trong cả nước, đóng góp tích cực vào việc chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Chúng ta hy vọng rằng với hướng đi đúng đắn thích hợp với tình hình thời kỳ mới; nền y học Việt Nam sẽ không ngừng vươn lên và phát triển.
Thêm vào đó chúng ta lại có Chính sách thuốc quốc gia về y học cổ truyền sẽ là nguồn động viên to lớn sự nghiệp y học cổ truyền của chúng ta và cũng là chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển nền y học cổ truyền của Việt Nam. Chúng ta hy vọng rằng nền y học cổ truyền của Việt Nam sẽ ngày càng phát triển.
Đặc biệt Ngành y tế đã quan tâm đến việc phát triển y dược học cổ truyền theo hướng hiện đại hoá, công nghiệp hoá. Tuy nhiên hướng phát triển như thế nào vẫn không làm mất đi bản sắc của y học cổ truyền, có như vậy nền y học cổ truyền của Việt Nam mới vững bước tiến vào thế kỷ 21, với phong độ quy mô hiện đại và bản chất đậm nét của y học cổ truyền Việt Nam.

Bảng 6. Một số cây thuốc được trồng hái, kết hợp với cây làm rau ăn, cây ăn quả và cây làm cảnh

Những cây làm thuốc và cây rau ăn

STT

Tên cây thuốc

Công dụng

1

Bạc hà

Thân lá chữa đau đầu, cảm nhiệt

2

Bí đỏ

Lá, quả chữa đau đầu, hạt chữa sán

3

Cải củ

Hạt chữa ho hen

4

Cải xanh

Hạt chữa ho

5

Cải xoong

Chữa ho, viêm phế quản

6

Cần tây

Hạ huyết áp

7

Diếp cá

Chữa sốt, chữa viêm họng, viêm phổi

8

Dứa nước

Chữa tiểu dục

9

Gấc

Ruột quả, màng hạt chữa sáng mắt. Hạt chữa mụn nhọt, quai bị

10

Hành

Chữa cảm mạo phong hàn

11

Hẹ

Chữa ho, chữa giun kim

12

Húng chanh

Chữa ho

13

Kinh giới

Chữa cảm hàn, chữa dị ứng

14

Lá lốt

Chữa đau xương, đau răng

15

Lá mơ tam thể

Chữa lỵ

16

Mướp

Lá, quả chữa ho đờm

17

Mướp đắng

Quả, hạt chữa đái đường

18

Ớt

Lá, quả chữa sốt rét

19

Rau mùi

Giải cảm, chữa sởi

20

Rau ngót

Chữa sốt rau (khi đẻ)

21

Rau răm

Ngứa kẻ chân, trục thai

22

Rau xam

Chữa lỵ, chữa lở ngứa chân

23

Rau lang

Nhuận tràng, chữa cảm (xông cảm)

24

Tỏi

Chữa cúm, chữa cao huyết áp

25

Tía tô

Lá giải cảm, chữa nôn, hạt chữa ho

26

Xương sông

Chữa ho

 

Những cây thuốc và cây ăn quả

STT

Tên cây thuốc

Công dụng

28

Bưởi

Vỏ cùi chữa đau bụng

29

Chanh

Lá, rễ chữa ho

30

Cam

Vỏ chữa ho

30

Dưa hấu

Chữa say nắng

31

Đậu đen

Giải thử, chữa táo

32

Đào

Nhân chữa bế kinh, ứ huyết

33

Đu đủ

Chữa giun, chữa táo bón

34

Hồng trứng

Tai hồng chữa nấc, nôn

35

Hồng xiêm

Quả xanh chữa lỵ chảy

36

Khế

Lá chữa dị ứng, ngứa, phát ban

37

Lựu

Quả chữa lỵ, rễ chữa sán

38

Măng cụt

Vỏ quả chữa lỵ chảy

39

Mơ

Quả chữa ho, nhân chữa ho hen

40

Nhãn

Long nhãn bổ huyết, hạt chữa lở đầu

41

Nhót

Lá chữa ho

42

Ổi

Búp chữa lỵ chảy

43

Quýt

Vỏ chữa ho, hạt chữa sán khí

44

Quất hồng bì

Quả chữa ho, lá chữa ho gà

45

Táo

Lá chữa ho hen, nhân táo chữa mất ngủ

46

Vải

Hạt chữa sán khí

47

Xoài

Lá chữa cảm mạo, vỏ cây chữa đau răng

 

Những cây làm thuốc và cây làm cảnh

STT

Tên cây thuốc

Công dụng

48

Bàng

Búp non chữa đau răng

49

Cam thảo dây

Lá, dây chữa ho

50

Cau

Vỏ chữa lỵ, hạt chữa sán

51

Cúc hoa vàng trắng

Chữa cảm nhiệt đau mắt

52

Dành dành

Lá chữa sốt, đau mắt, hạt quả chữa gan

53

Đinh lăng

Lá lợi sữa, rễ: thuốc bổ

54

Đơn đỏ

Chữa dị ứng mụn nhọt

55

Hoa hồng (bạch)

Chữa ho

56

Hoa hòe

Chữa cao huyết áp

57

Huyết dụ

Chữa chảy máu cam

58

Hoa hiên

Chữa chảy máu cam

59

Kim ngân

Hoa chữa dị ứng

60

Mào gà

Hạt chữa rắn cắn, hạ huyết áp

61

Ngô đồng

Vỏ thân chữa đau lưng

62

Mạch môn đông

Rễ chữa ho đờm

63

Ngâu

Hoa chữa bệnh giòn mao mạch

64

Quất

Quả chữa ho

65

Ruối

Lá chữa cảm (xông), vỏ chữa đau răng

66

Thiên môn đông

Rễ chữa ho

67

Vạn tuế

Củ lợi tiểu

68

Xạ can

Rễ chữa ho

 


Trích nguồn từ sách: "DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN"
của TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI, 
Bộ môn DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN, NXB Y HỌC

Nhận xét

BÀI ĐĂNG ĐƯỢC XEM NHIỀU

Chữa Tê Thấp và Đau Nhức - Chay

Còn gọi là Cây Chay. Tên khoa học Artocarpus tonkinensis A. Chev. Thuộc họ Dâu tằm Moraceae.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Diếp Cá

Còn có tên là cây  lá giấp ,  ngư tinh thảo . Tên khoa học Houttuynia cordata Thunb. Thuộc họ Lá giấp Saururaceae. A. Mô tả cây. Cây diếp cá là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40cm, có lông hoặc ít lông. Lá mọc cách, hình tim, đầu lá, hơi nhọn hay nhọn hẳn. Hoa nhỏ màu vàng nhạt, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng; trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc, toàn cây vò có mùi tanh như cá. Hoa nở về mùa hạ vào các tháng 5-8. (Hình dưới).

Chữa Cảm Sốt - Cỏ Mần Trầu

Còn gọi là ngưu cân thảo, sam tử thảo, tất suất thảo, cỏ vườn trầu, cỏ chỉ tía, cỏ dáng, cỏ bắc, cheung kras (Campuchia), mia pak kouay (Lào). Tên khoa học Eleusine indica (L.) Gaertn. (Cynosurus indica L.) Thuộc họ Lúa Poaceae (Gramineae).

Chữa Bệnh Tiêu Hóa - Vối

Tên khoa học Cleistocalyx operculatus (Roxb). Merr et Perry (Eugenia operculata Roxb., Syzygium nervosum DC.). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

Chữa bệnh Tim - Vạn Niên Thanh

Còn gọi là thiên niên vận, đông bất điêu thảo, cửu tiết liên. Tên khoa học Rhodea japonica Roth. Thuộc họ Hành Alliaceae. Cần chú ý ngay rằng tên vạn niên thanh ở nước ta thường dùng để gọi nhiều cây khác nhau. Cây vạn niên thanh ta trồng làm cảnh là cây Aglaonema siamense Engl, thuộc họ Ráy Araceae. Còn cây vạn niên thanh giới thiệu ở đây thuộc họ Hành tỏi, hiện chúng tôi chưa thấy trồng ở nước ta, nhưng giới thiệu ở đây để tránh nhầm lẫn.

CÂY RAU LÀM THUỐC - KHOAI NƯA

Khoai nưa hay Khoai na - Amorphophallus paeoniifolius (Dennst.) Nicols, = A. campanulatus (Roxb.) Blume ex Decne, thuộc họ Ráy - Araceae. Cây thảo sống lâu năm, có thân củ nằm trong đất; củ hình bán cầu, rộng đến 20cm, mặt dưới lồi mang một số rễ phụ và có những nốt như củ khoai tây chung quanh có 3-5 mấu lồi; vỏ củ màu nâu, thịt trắng vàng và cứng. Lá mọc sau khi đã có hoa, thường chỉ có một lá có cuống cao tới 1,5m được gọi là dọc (cọng) dọc màu xanh sẫm có đốm bột; phiến chia làm 3 nom tựa như lá Ðu đủ. Cụm hoa gồm một mo to màu đỏ xanh có đốm trắng, mặt trong màu đỏ thẫm, bao lấy một bong mo là một trục mang phần hoa cái ở dưới, phần hoa đực ở trên. Khoai nưa phân bố ở Ấn độ, Myanma, Trung quốc, Việt nam, Campuchia, Malaixia, Inđônêxia, Philippin. Ở nước ta, khoai nưa mọc hoang rải rác ở khắp các vùng rừng núi, được bà con nhiều địa phương đem về trồng từ lâu đời ở trong vườn, quanh bờ ao, dọc hàng rào và trên các đồi để làm thức ăn cho người và gia súc, gặp nhiều ở các tỉnh Lạng s...

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Hoa Cứt Lợn

Còn có tên là cây hoa ngũ sắc, cây hoa ngũ vị, cỏ hôi. Tên khoa học  Ageratum conyzoides L. Thuộc họ  Cúc Asteraceae(Compositae). A. Mô tả cây Cây hoa cứt lợn là một cây nhỏ, mọc hàng năm, thân có nhiều lông nhỏ mềm, cao chừng 25-50cm, mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Lá mọc đối hình trứng hay 3 cạnh, dài 2-6cm, rộng 1-3cm, mép có răng cưa tròn, hai mặt đều có lông, mật dưới của lá nhạt hơn. Hoa nhỏ, màu tím, xanh. Quả bế màu đen, có 5 sống dọc (Hình dưới).

CÂY THUỐC TRỊ BỆNH THÔNG DỤNG - DIẾP CÁ

Còn gọi là Dấp cá, rau Dấp, cây lá Giếp (Houttuynia cordata Thunb) thuộc họ lá Giấp (Saururaceae). Mô tả: Cây thảo cạo 20-40cm, Thân màu lục troặc tím đỏ. Lá mọc sọ le, hình tim, có bẹ, khi vò ra có mùi tanh như mùi cá. Cụm hoa hình bông bao bởi 4 lá bắc màu trắng, gồm nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt. Hạt hình trái xoan nhẵn. Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.

CHỮA MỤN NHỌT MẨN NGỨA - Đơn Tướng Quân

Tên khoa học Syzygium formosum var , ternifolium (Roxb) Merr. et Perry (Eugenia ternifolia Roxb., Eugenia formosa var. ternifolia (Roxb) Duth). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

Đắp vết thương Rắn Rết cắn - Phèn Đen

Còn gọi là nỗ. Tên khoa học Phyllanthus reticulatus Poir. Thuộc họ Thầu dầu Euphorhiaceae.